Part 1: Soi một số thủ thuật làm đẹp dòng tiền

 

Dòng tiền hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là một chỉ tiêu rất quan trọng thể hiện chất lượng hoạt động, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải có tiền thật. Tuy nhiên, chỉ tiêu này thường không được phần lớn nhà đầu tư trên thị trường coi trọng mà thay vào đó thường tập trung vào chỉ tiêu doanh thu và lợi nhuận. Những chỉ tiêu rất dễ bị doanh nghiệp thao túng.
Hôm nay DOF xin được giới thiệu một bài viết rất hay về đánh giá chất lượng dòng tiền hoạt động của doanh nghiệp và các thủ thuật làm đẹp nó được đăng trên báo Đầu tư chứng khoán. Mọi người cùng xem và đánh giá nhé.

(ĐTCK) Với việc các nguyên tắc dồn tích trong kế toán đã bị lợi dụng qua nhiều thế hệ, tại nhiều quốc gia trên thế giới, nhà đầu tư dần có cái nhìn thận trọng hơn về chất lượng lợi nhuận của doanh nghiệp và tập trung hơn vào dòng tiền từ hoạt động kinh doanh (CFFO). Tuy nhiên, giới chủ doanh nghiệp “thấu hiểu” nhu cầu này nên đã sử dụng các kỹ thuật nhằm tạo ra một dòng tiền kinh doanh mạnh cho công ty.

Trong môi trường kinh doanh liên tục biến đổi, việc cập nhật các kỹ năng, chuyên môn là phần không thể thiếu của công việc đầu tư. Ðã tới lúc nhà đầu tư nhận diện các kỹ thuật “gian lận” dòng tiền kể trên để có được cái nhìn chân thực nhất về hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Dòng tiền chảy trong doanh nghiệp được phân loại thành 3 phần dựa trên bản chất của giao dịch: Kinh doanh, đầu tư và tài chính. Trong đó, dòng tiền kinh doanh được nhà đầu tư để mắt tới nhiều nhất vì liên quan tới hoạt động kinh doanh chính và vận hành của doanh nghiệp. Các kỹ thuật gian lận tài chính dù là vô tình hay có chủ ý cũng sẽ tác động ít nhiều tới dòng tiền, ở bài viết này sẽ xét trong khía cạnh gian lận có chủ ý.

Theo đó, tuy có nhiều kỹ thuật, nhưng có một nguyên lý chung là “lấy của người giàu chia cho người nghèo”, tức dịch chuyển dòng tiền của hoạt động kinh doanh sang một trong hai dòng tiền còn lại. Dòng tiền thu từ đầu tư và tài chính lại được ghi nhận ngược lại vào dòng tiền thu về từ hoạt động kinh doanh. Những “chiêu” thường được sử dụng có thể chia thành ba nhóm chính theo Howard M.Schilit (CEO của CFRA) và Jeremy Perler (Giám đốc nghiên cứu của tổ chức CFRA – Center of Finanicial Research and Analysis).

I. DI CHUYỂN DÒNG TIỀN TỪ HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH (CFFF) SANG DÒNG TIỀN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH (CFFO)

1. Kỹ thuật đầu tiên là ghi nhận CFFO ảo từ việc vay mượn ngân hàng thông thường. Cụ thể, khi doanh nghiệp vay vốn lưu động từ ngân hàng sẽ phải thế chấp các quyền tài sản như các hợp đồng phải thu, hoặc hàng hóa hình thành từ tài sản đó như hàng tồn kho luân chuyển và được đăng ký các giao dịch đảm bảo xác nhận.

Từ sau những gian lận hàng tồn kho ảo, các ngân hàng trở nên thận trọng hơn trong việc nhận các tài sản đảm bảo dạng này, coi đây là một dạng tài sản bổ sung để xử lý, không phải cơ sở để cho vay, giải ngân, dù đây là một giao dịch vay mượn rất bình thường. Tuy nhiên, điều bất thường xảy ra khi doanh nghiệp thực sự không có nhu cầu vay, nhưng lại muốn “bán” sản phẩm này cho ngân hàng. Khi đó, giao dịch sẽ diễn ra tương tự như một hợp đồng Repo, tức là doanh nghiệp bán hàng hóa kèm theo một điều khoản mua lại trong khoảng thời gian ngắn sau đó với giá cao hơn số tiền nhận ban đầu.

Về bản chất kinh tế, đây vẫn là một giao dịch vay mượn có tài sản đảm bảo, hạch toán đúng sẽ là tăng nợ vay và tiền, nhưng trong trường hợp này, doanh nghiệp có thể ghi nhận tiền từ ngân hàng như một dòng tiền vào từ hoạt động kinh doanh, dòng tiền trả nợ sau đó cũng thuộc dòng tiền ra từ hoạt động kinh doanh. Khi đó, doanh thu, lợi nhuận và cả dòng tiền kinh doanh trong trường hợp này đều tăng trước khi chốt sổ cho kỳ kế toán.

Vấn đề trở nên phức tạp hơn một chút, khi các tập đoàn thành lập tổ chức có mục đích đặc biệt (SPEs) nhằm ký một hợp đồng vay nợ với nhiều ngân hàng. Số tiền các SPEs vay được sẽ tài trợ cho việc mua lại hàng hóa từ tập đoàn mẹ. Dòng tiền từ SPEs chảy qua tập đoàn sẽ được ghi nhận là dòng vào của CFFO. Trên thực tế, không có dòng tiền thực nào được tạo ra và chỉ đơn thuần là bỏ tiền từ túi bên trái qua túi bên phải, nhưng lại không phải ghi nhận dòng ra của CFFO.

Trên thực tế, kỹ thuật này đã được “Made in Vietnam” dưới hình thức tinh vi và phức tạp hơn. Bằng việc các SPEs trực tiếp sở hữu ngược lại cổ phần trong tập đoàn và bán hàng dưới thương hiệu của tập đoàn mẹ. Cụ thể, SPEs dùng nguồn vốn tài trợ từ ngân hàng để nhập nguyên vật liệu bán lại cho tập đoàn, sau đó mua lại thành phẩm và bán ra ngoài thị trường dưới thương hiệu của tập đoàn mẹ. Ðây là một hình thức chuyển giá hay xảy ra tại thị trường Việt Nam vượt lên trên mức gian lận và làm đẹp báo cáo tài chính.

2. Kỹ thuật thứ hai là tăng CFFO bằng việc bán các khoản phải thu trước khi tới ngày thu hồi thực tế. Quy trình thực hiện cũng tương tự như trường hợp bán sản phẩm của công ty cho ngân hàng và ghi nhận sai bản chất. Ngoài ra, doanh nghiệp có thể sử dụng các công cụ chưa được phổ biến rộng rãi tại Việt Nam là bao thanh toán và chứng khoán hóa.

Dấu hiệu nhận biết trong trường hợp này là các khoản phải thu giảm rất mạnh trong một khoảng thời gian ngắn. Những khoản phải thu này chưa tới hạn và sẽ được “bổ sung” vào dòng tiền hoạt động kinh doanh trong tương lai, nhưng được doanh nghiệp mang ra sử dụng để làm đẹp báo cáo trước. Việc này sẽ để lại một “lỗ hổng” lớn trong tương lai. Ngoài ra, với hành động này, có thể suy luận rằng doanh nghiệp gặp khó khăn về vốn lưu động, nhưng không muốn tìm tới ngân hàng vì thêm một khoản vay sẽ làm “xấu” đi báo cáo tài chính.

Nhà đầu tư bên cạnh việc phân tích những chỉ tiêu trung bình cần quan tâm tới số dư phải thu tại thời điểm cuối mỗi quý. Thông thường, từ khi diễn ra việc khủng hoảng dòng tiền cho tới khi doanh nghiệp phá sản là một khoảng thời gian không dài, do các công ty thường tìm nhiều cách để che đậy tình hình, cũng như sự khó khăn về thanh khoản.

Ðáng chú ý, chính sách kế toán của doanh nghiệp cũng sẽ nói cho nhà đầu tư biết các rủi ro tiềm ẩn từ việc ghi nhận doanh thu theo hình thức ước lượng khối lượng công việc hoàn thành mà không có xác nhận của khách hàng, dẫn tới việc không thống nhất được khi xuất hóa đơn, chứng từ thực tế và các khoản phải thu đã được ghi nhận kéo dài thời gian thu hồi, gây khó khăn cho thanh khoản, ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh.

Một số doanh nghiệp lớn thuộc ngành xây dựng của Việt Nam sử dụng phương pháp này để tăng trưởng nóng và để lại hậu quả là những khoản nợ quá hạn phải trích lập, ăn vào lợi nhuận hoạt động của doanh nghiệp trong các kỳ kế toán sau. Trên thực tế, nhà đầu tư không thể biết được danh sách các khách hàng quá hạn với số tiền từng người thế nào, tuổi nợ bao nhiêu và công ty có trích lập đúng theo quy định của pháp luật hay không.

3. Kỹ thuật thứ ba là tăng CFFO bằng việc giả mạo doanh thu từ các khoản phải thu. Những khoản doanh thu ảo tạo ra các khoản phải thu ảo mà không bao giờ có thể thu hồi được, vì các giấy tờ tạo ra không đi kèm với bản chất kinh tế thực hoặc ít nhất việc ghi nhận không đúng thời điểm. Ngay cả ngân hàng cũng phải “dè chừng” với các tài sản này vì việc lập ra các SPEs ở Việt Nam không hề khó để phục vụ cho mục đích riêng của chủ doanh nghiệp.

Do dấu hiệu của kỹ thuật này rất khó để nhận biết, cách tốt hơn để giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư là chọn các công ty được kiểm toán bởi Big4, xem xét kỹ chính sách kế toán và các thuyết minh về những khoản mục trọng yếu đối với các khách hàng có số dư lớn. Bất kỳ quyết định quản trị nào liên quan tới việc thay đổi chính sách kế toán (accounting decision) cũng là một dấu hỏi rất lớn đối với nhà đầu tư. Trên hết, nhà đầu tư nên chọn những công ty có khoản phải thu thấp với chính sách kế toán nhất quán.

Xem lại Part 2 ở đây: http://vietnambankers.edu.vn/part-2-soi-mot-so-thu-thuat-lam-dep-dong-tien/